Dữ liệu lắp đặt thang máy dân cư hiện tại quốc gia quý 1 năm 2026 được công bố, khối lượng xây dựng tăng 52.7% so với cùng kỳ năm ngoái
Giải thích dữ liệu cốt lõi: Thứ nhất, chính sách trợ cấp quốc gia có tác dụng thực hiện đáng kể. Năm 2026, chính quyền trung ương đã đưa việc lắp đặt thang máy trong các cộng đồng cũ vào phạm vi hỗ trợ chính sách đổi mới thiết bị quy mô lớn và bố trí quỹ trợ cấp đặc biệt trị giá 18 tỷ nhân dân tệ. Tính đến cuối tháng 3 năm 2026, 28 tỉnh, thành phố trên toàn quốc đã ban hành các quy tắc hỗ trợ thực hiện. Sau khi áp dụng trợ cấp tài chính địa phương, trợ cấp tối đa cho một thang máy duy nhất có thể đạt 200.000 nhân dân tệ; Thứ hai, phân phối khu vực, Đông Trung Quốc chiếm 38%, Nam Trung Quốc 21%, Bắc Trung Quốc 16%, Trung Quốc 12%, Tây Nam Trung Quốc 8%, Tây Bắc và Đông Bắc Trung Quốc 5%. Giang Tô, Chiết Giang, Quảng Đông, Sơn Đông và Tứ Xuyên là năm tỉnh và thành phố hàng đầu về khối lượng xây dựng; Thứ ba, đổi mới mô hình, tỷ lệ các mô hình “xây dựng thay mặt và cho thuê” và “thang máy chia sẻ” đã tăng lên 32%. Chủ sở hữu không cần phải trả tiền đầu tư một lần, chỉ cần trả tiền thuê nhà hàng tháng để sử dụng thang máy, giảm đáng kể ngưỡng lắp đặt; Thứ tư, cơ cấu nguồn quỹ, trợ cấp tài chính trung ương chiếm 38%, tài chính phù hợp địa phương 32%, quỹ cung cấp nhà ở 15%, quỹ bảo trì nhà ở đặc biệt 10%, chủ sở hữu tự huy động 4%, vốn xã hội 1%. Trợ cấp tài chính đã trở thành nguồn vốn cốt lõi; Thứ năm, dự báo quy mô thị trường, quy mô thị trường quốc gia về lắp đặt thang máy trong các khu dân cư hiện có dự kiến sẽ vượt quá 35 tỷ nhân dân tệ vào năm 2026, tăng hơn 45% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 3 năm tới, nhu cầu lắp đặt thang máy quốc gia sẽ vượt quá 300.000 chiếc và quy mô thị trường sẽ vượt quá 100 tỷ nhân dân tệ.